Theo quy định tại công văn số 1898/BHXH-CSXH ngày 22/5/2012 của BHXH Việt Nam thì đối với các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa có giấy phép hoạt động hợp lệ do cấp có thẩm quyền cấp mà chưa thực hiện ký hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan BHXH thì cũng được cấp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH để làm căn cứ thanh toán trợ cấp ốm đau, thai sản. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác quản lý được tốt, các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa có yêu cầu khám, chữa bệnh và cấp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH đối với người lao động điều trị ngoại trú để thanh toán trợ cấp ốm đau, thai sản đăng ký với cơ quan BHXH thuộc địa bàn nơi bệnh viện, phòng khám làm việc để được cấp mẫu Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, phối hợp trong việc thực hiện cấp, quản lý Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH. Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH do các bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa nêu trên cấp, được thực hiện kể từ ngày bệnh viện, phòng khám đăng ký với cơ quan BHXH cho đến khi có quy định mới.
Theo quy định tại Công văn số 1246/BHXH-BT ngày 09 tháng 04 năm 2012 của BHXH Việt Nam thì giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động đối với người lao động theo nguyên tắc đóng bảo hiểm xã hội đến thời điểm nào thì giải quyết chế độ đến thời điểm đó.
Nếu đến thời điểm 25/4/2012 bà sinh con, đơn vị của bà mới đóng BHXH đến tháng 9/2011 thì việc quyết toán chế độ thai sản sẽ chưa thực hiện được.
Theo qui định thì khi tính hưởng chế độ thai sản căn cứ vào mức bình quân tiền lương, tiền công của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Nhân viên bạn nghỉ sinh con vào tháng 7/2011 thì được tính bình quân lương từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2011, nhưng đến tháng 12/2011 đơn vị bạn mới ra quyết định nâng lương cho nhân viên bạn (nâng lương từ tháng 4/2011). Vậy nhân viên của đơn vị bạn sẽ được cơ quan BHXH thanh toán chế độ thai sản cho phần chênh lệch của hệ số lương mới từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2011.
Thủ tục đề nghị thanh toán bổ sung:
- Lập mẫu danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT (D02-TS) để điều chỉnh hệ số lương.
- Lập mẫu C67a-HD (danh sách người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản)
Nếu vợ bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản thì hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ đang đóng bảo hiểm xã hội sinh con, gồm:
a. Sổ bảo hiểm xã hội;
b. Giấy chứng sinh (bản sao) hoặc Giấy khai sinh (bản sao) của con.
( Sổ bảo hiểm xã hội của người lao động tổ chức đơn vị giữ, người lao động chỉ cần nộp giấy tờ qui định ở điểm b)
Xin nêu Điều 117 Luật BHXH để bạn tham khảo và có ý kiến với giám đốc của bạn:
Điều 117. Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản
1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
2. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.
3. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
1. "06th liền kế trước khi sinh" của bạn được tính từ tháng 3-> 8/2011.
Mức BQ: (6.000.000 x 03th + 10.500.000 x 03th)/6 = 8.250.000đ
Giả sử bạn làm việc trong điều kiện bình thường:
Mức thai sản của bạn được tính như sau:
(8.250.000đ x 04th + 830.000đ x 02th) = 34.660.000đ
- Theo qui định tại công văn số 3527/BHXH-CĐCS ngày 21/9/2007 của BHXH Việt Nam: “Trường hợp người lao động sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, nếu có đóng BHXH của tháng đó và cả tháng đóng BHXH đó mới đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con, nhận nuôi con nuôi thì tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề gần nhất bao gồm cả tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng này”.
Như vậy, chỉ có trường hợp sinh từ ngày 15 trở đi của tháng và cả tháng đó mới đủ 6th thì tính lương LQ bao gồm tháng này nếu có đóng BHXH.
2. Trường hợp cơ quan BHXH tính thiếu số tiền thai sản cho bạn thì đơn vị đề nghị tính bổ sung.
Đơn vị bạn lập mẫu C67a-HD.
* Điều 113 Luật BHXH đã qui định: Hồ sơ hưởng chế độ thai sản, gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội.
- Bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con.
* Điều 111 Luật BHXH đã qui định: Cấp Sổ bảo hiểm xã hội
1. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 110 của Luật này.
2. Người lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này.
3. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cấp sổ bảo hiểm xã hội trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp; hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Như vậy, bạn phải có sổ BHXH thì mới được giải quyết chế độ thai sản.
Bạn căn cứ Điều 111 (tham khảo thêm Điều 110) nói trên để yêu cầu đơn vị phải làm sổ BHXH cho mình. Bạn đã tham gia BHXH hơn 01 năm nhưng đơn vị chưa làm sổ BHXH cho bạn là vi phạm Luật rồi đó.
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 37 Luật BHXH: Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 30, khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm đến mười ngày trong một năm.
Vợ bạn sinh mổ nên theo qui định sẽ được nghỉ dưỡng sức 07 ngày/năm. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.
Bạn lưu ý thời gian đề nghị nghỉ dưỡng sức: trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ theo quy định (thời gian hưởng chế độ khi sinh con được tính từ ngày ghi trong giấy chứng sinh).
Khi vợ bạn được cơ quan xét cho nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản (nghỉ việc không đi làm) thì được cơ quan BHXH chi trả mức hưởng như trên.
Theo qui định: Trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời quyết định.
* Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày:
- Bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình;
- Bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung, mức hưởng này tính cả tiền đi lại, tiền ăn và ở.
Nếu em đủ điều kiện hưởng thai sản (đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con) thì chế độ thai sản đối với trường hợp sinh 3 của em như sau:
- Giả sử em làm việc trong điều kiện bình thường thì sẽ được nghỉ 04 tháng, trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày, em sinh 3 sẽ được nghỉ thêm 60 ngày.
- Trợ cấp một lần khi sinh con : Được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.
- Trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ. Em sinh 3 nên sẽ được hưởng tối đa là 10 ngày.
- Hiện nay chưa có hướng dẫn về việc lao động nữ được nghỉ thai sản 6th.
- Theo qui định của Luật BHXH: Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai.
- Mức hưởng của người lao động hưởng chế độ thai sản trong đó có chế độ đi khám thai bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Vì vậy, nếu bạn đi khám thai trong tháng 11/2011 thì mức hưởng sẽ là bình quân 6th liền kề tính từ tháng 5->10/2011 (1.500.000đ x 4th + 2.000.000 x 2th) = 1.666.667đ.
- Bạn áp dụng công thức sau để tính chế độ đi khám thai cho mình:
Mức hưởng khi nghỉ việc đi khám thai = (Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc / 26 ngày) x 100% x số ngày nghỉ việc đi khám thai.
Xin nêu qui định trong Luật BHXH để bạn tham khảo cho trường hợp của mình:
Điều 36 Luật BHXH đã qui định lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con khi đủ các điều kiện sau đây:
- Sau khi sinh con từ đủ sáu mươi ngày trở lên;
- Có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại cho sức khoẻ người lao động;
- Phải báo trước và được người sử dụng lao động đồng ý.
Bạn có thể đi làm nếu đủ sức khỏe và được cơ quan đồng ý.
Tháng 3/2011 nhân viên cơ quan bạn mới nghỉ sinh, bạn phải báo giảm lại với nội dung giảm trong tháng 02/2011 là nghỉ không lương, nếu nghỉ do ốm thì phải có chứng từ để thanh toán chế độ ốm đau theo qui định (thời gian này không đóng BHXH, không được tính là thời gian tham gia BHXH); tháng 03/2011 là bắt đầu nghỉ thai sản (Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội).
Điểm a Khoản 1 Điều 13 Luật BHYT đã qui định: Trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm y tếnhưng vẫn được tính vào thời gian tham gia bảo hiểm y tế liên tục để hưởng chế độ bảo hiểm y tế.
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con
Đối với trường hợp của bạn, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con của bạn được tính từ tháng 3/2011 đến tháng 02/2012 (Nếu bạn sinh con từ ngày 15/3 thì tính từ 4/2011 đến tháng 03/2012) . Bạn đủ điều kiện hưởng thai sản.
Điều 35 Luật BHXH đã qui định:Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội.
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con
Đối với trường hợp của bạn, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con của bạn được tính từ tháng 6/2011 đến tháng 5/2012 (Nếu bạn sinh con từ ngày 15/6 thì tính từ 7/2011 đến tháng 6/2012) . Nếu trong khoảng thời gian này bạn đóng BHXh từ đủ 6th trở lên thì bạn đủ điều kiện hưởng thai sản.
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Đối với trường hợp của bạn, theo dự kiến ngày sinh con của bạn thì khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con của bạn được tính từ tháng 04/2011 đến tháng 3/2012. Nếu trong khoảng thời gian này bạn đóng BHXH từ đủ 6th trở lên thì bạn đủ điều kiện hưởng thai sản.
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con
Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Đối với trường hợp của bạn, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con của bạn được tính từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011. Bạn mới đóng BHXH có 04th nên bạn không đủ điều kiện hưởng thai sản.
Bạn sinh con trước ngày 15 của tháng nên tháng đó không đóng BHXH.
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Nếu thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn.
Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Đối với trường hợp của bạn, nếu bạn sinh trước ngày 15/4/2011 thì bạn mới được hưởng chế độ thai sản.
Câu hỏi của bạn có nội dung “dự định tháng 4/2011 sẽ sinh con" không phù hợp với thời điểm bạn hỏi. Bạn có thể tham khảo nội dung trả lời trên để áp dụng cho trường hợp của mình.
Trong trường hợp này, người lao động sẽ được hưởng cả hai chế độ ốm đau và thai sản.
Chế độ ốm đau sẽ được tính căn cứ vào số ngày điều trị bác sĩ ghi trong Giấy ra viện
Chế độ thai sản sẽ được tính từ ngày ghi trong giấy chứng sinh (Bắt đầu từ 15/8/2011).
(sẽ không tính những ngày ốm trùng với những ngày đã giải quyết thai sản)
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Nếu thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn. Đến tháng 12/2011 bạn mới mang thai có 01 tháng mà bạn đã nghỉ việc từ tháng 7/2011 nên bạn không đủ điều kiện hưởng thai sản.
Bạn sẽ được nhận trợ cấp BHXH một lần sau 12 tháng nghỉ việc mà không tiếp tục đóng BHXH. Nhưng để được nhận trợ cấp BHXH bạn phải có sổ BHXH đã được chốt thời gian công tác đúng qui định.
Sau thời gian 12th kể từ tháng nghỉ việc, bạn liên hệ với BHXH huyện nơi có hộ khẩu thường trú để được hướng dẫn nhận trợ cấp.
Khoản 1 Điều 94 Luật BHXHqui định tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc: Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.
Khoản 1 Điều 35 Luật BHXH qui định mức hưởng chế độ thai sản: Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc.
Như vậy theo qui định, các khoản đóng BHXH của bạn đều được cơ quan BHXH chi trả khi bạn nghỉ thai sản.
Còn các khoản thu nhập khác do ngành của bạn quy định, Luật BHXH không đề cập đến vấn đề này.
Điều 30 Luật BHXH qui định: Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu: Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.
Bạn căn cứ vào Giấy ra viện hoặc Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội do cơ sở y tế cấp (mẫu số C65-HD) có ghi tuổi của thai chết lưu để áp dụng cho trường hợp của mình.
Cách tính như sau:

* Điều 17 Nghị định 152/2008/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ đã nêu:
Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản theo khoản 1 Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
1. Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu quy định tại Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội hoặc sau thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
2. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời quyết định, cụ thể như sau:
a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ 2 con trở lên;
b) Tối đa 7 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
c) Bằng 5 ngày đối với các trường hợp khác.
3. Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày:
a) Bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình;
b) Bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại cơ sở tập trung, mức hưởng này tính cả tiền đi lại, tiền ăn và ở.
* Thời hạn để đề nghị giải quyết chế độ thai sản:
Trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP.”.
* Hồ sơ đề nghị nghỉ dưỡng sức, phục hồ sức khỏe sai thai sản: Danh sách người lao động đề nghị hưởng trợ cấp nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau thai sản, mẫu số C69a-HD (Bạn có thể lấy biểu mẫu tại trang web này)
Theo qui định của Luật BHXH: Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán chế độ thai sản trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Vì vậy, nếu không có gì vướng mắc về hồ sơ quyết toán, BHXH sẽ trả hồ sơ thai sản cùng với chứng từ BHXH đã quyết toán cho đơn vị bạn theo đúng thời gian qui định, sau đó, sẽ chuyển tiền vào tài khoản của công ty đã đăng ký. Công ty bạn không cần làm thêm thủ tục gì.
Bạn nghỉ thai sản ngày 14/10/2011, BHXH giải quyết chế độ thai sản với mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ sinh theo mức đóng cũ.
Nếu bạn được nâng lương trong thời gian 6th này bạn sẽ được nhận số tiền truy lĩnh chênh lệch. Tổ chức đơn vị bạn truy nộp phần lương tăng và tính toán giải quyết phần chênh lệch chế độ thai sản cho bạn, sau đó nộp hồ sơ quyết toán với cơ quan BHXH.
Theo khoản 1 Điều 15 của NĐ 152/2006-NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định về thời gian hưởng chế độ thai sản khi sinh con :
1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con của lao động nữ phụ thuộc vào điều kiện lao động, tình trạng thể chất và số con một lần sinh, cụ thể là:
a) 4 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường;
b) 5 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc theo chế độ 3 ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên;
c) 6 tháng đối với lao động nữ là người tàn tật có mức suy giảm khả năng LĐ từ 21% trở lên.
d) Trường hợp sinh một lần từ 2 con trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy định tại điểm a, b, c khoản này thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con lao động nữ được nghỉ thêm 30 ngày.
Như vậy, lao động nữ bị teo cơ bẩm sinh mà giám định mức suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì sẽ dược hưởng chế độ thai sản là 06 tháng.
Thủ tục hồ sơ hưởng chế độ thai sản kèm theo giấy chứng nhận thương tật (bản sao) hoặc Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng Giám định Y khoa ( bản sao).
Theo qui định tại Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội:
“Trong khoảng thời gian 30 ngày, tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu quy định tại Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày tính từ thời điểm lao động nữ trở lại làm việc sau khi hết thời gian hưởng chế độ khi sinh con quy định tại Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP.”
Như vậy, sau thời gian nghỉ thai sản mà bạn không tiếp tục đi làm việc thì bạn không được hưởng chế độ dưỡng sức sau thai sản .
Công ty bạn chưa thực hiện nghĩa vụ đóng tiền BHXH đúng theo quy định nên cơ quan BHXH không quyết toán chế độ thai sản cho đơn vị bạn.
Bạn có thể viết đơn đề nghị tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia BHXH.
(Lưu ý, lần sau đề nghị bạn viết đầy đủ dấu theo ngữ pháp Việt Nam để khỏi hiểu nhầm ý bạn!)
Điều kiện để lao động nữ hưởng chế độ thai sản là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Bạn mới đóng BHXH có 5th nên không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Sau khi sinh con, bạn không đi làm, không được hưởng lương tại đơn vị vì vậy đơn vị phải báo giảm.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con của lao động nữ tham gia BHXH bắt buộc qui định trong Luật BHXH phụ thuộc vào điều kiện lao động, tình trạng thể chất và số con một lần sinh, không phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà người lao động đang làm việc.
Theo qui định của Luật BHXH: Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động và sau đó quyết toán hằng quí với tổ chức bảo hiểm xã hội
Bạn nộp chứng từ thai sản (giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con) cho tổ chức đơn vị và đề nghị đơn vị giải quyết và sau đó quyết toán ngay với tổ chức bảo hiểm xã hội.
Khoản 1 Điều 28 Luật BHXH qui định điều kiện hưởng chế độ thai sản
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;
d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.
Và Khoản 3 Điều 31 Luật BHXH qui định “Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.”.
Đối chiếu với những qui định trên, ông không được hưởng chế độ thai sản.
Theo quy định tại điểm 2 văn bản số 1464/BHXH-BT ngày 23/5/2008 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thu BHXH, trường hợp doanh nghiệp đang tham gia BHXH nhưng đóng BHXH không đúng thời gian quy định (như tình trạng nợ của đơn vị bạn) thì việc thanh toán các chế độ BHXH vẫn thực hiện khi đơn vị hoàn tất nợ.
(lưu ý là thời gian truy thu không được tính hưởng chế độ thai sản).
Theo quy định tại điểm 2 văn bản số 1464/BHXH-BT ngày 23/5/2008 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thu BHXH, trường hợp người sử dụng lao động đang tham gia BHXH nhưng đóng BHXH không đúng thời gian quy định, việc thanh toán chi trả các chế độ BHXH thực hiện theo nguyên tắc đơn vị đóng đến thời gian nào thì tính và thanh toán chế độ BHXH đến thời gian đó.
Đối chiếu với qui định trên, bạn được hưởng chế độ thai sản.
Theo quy định tại điểm 2 văn bản số 1464/BHXH-BT ngày 23/5/2008 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thu BHXH, trường hợp người sử dụng lao động đang tham gia BHXH nhưng đóng BHXH không đúng thời gian quy định, việc thanh toán chi trả các chế độ BHXH thực hiện theo nguyên tắc đơn vị đóng đến thời gian nào thì tính và thanh toán chế độ BHXH đến thời gian đó.
Đối chiếu với qui định trên và theo nội dung bạn hỏi, đơn vị bạn ngưng đóng BHXH cho CB-CNV có thể là do nợ BHXH. Nếu đúng, thì chế độ thai sản của bạn vẫn được hưởng.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội và Điểm a Khoản 1 Điều 13 của Luật Bảo hiểm y tế: Trong thời gian người lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH, BHYT nhưng vẫn được tính là thời gian đóng BHXH và BHYT. Như vậy, nếu bạn đi làm sớm hơn quy định, thì trong tháng đi làm sớm không phải đóng BHXH, BHYT.
Qui định điều kiện hưởng chế độ khi sinh con là: Đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con. Như bạn trình bày thì bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Bạn đã đóng BHXH từ tháng 01/2009 đến lúc bạn sinh con là tháng 6/2010 được 17 tháng (từ 01/2009-> 5/2010) nên bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản (Đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi).
Theo quy định tại Điều 12, Quyết định số 777/QĐ-BHXH ngày 17/5/2010 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH: "Trách nhiệm của người sử dụng lao động: giải quyết và chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động hoặc thân nhân người lao động trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động."
Số tiền chi trả chế độ ốm đau, thai sản lấy từ nguồn quỹ BHXH 2% để lại đơn vị. Hàng tháng hoặc hàng quý, đơn vị lập danh sách kèm hồ sơ đã giải quyết trong tháng hoặc trong quý nộp cho cơ quan BHXH để xét duyệt và quyết toán.
Đối chiếu với qui định trên, đơn vị của bạn có trách nhiệm giải quyết chế độ thai sản cho bạn. Sau đó quyết toán hằng qúi với cơ quan BHXH.
Và theo qui định tại Khoản 2 Điều 35 Luật BHXH:”Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội”.
Không báo giảm nghĩa là bạn vẫn đi làm và được hưởng lương, cơ quan BHXH không có cơ sở để quyết toán chế độ thai sản cho đơn vị bạn.
Bạn nên đề nghị tổ chức đơn vị đến làm việc cụ thể với cơ quan BHXH.
Qui định điều kiện hưởng chế độ khi sinh con là: Đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con
Và, trường hợp sinh con từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con .
Đối chiếu với các qui định trên, nếu bạn có đóng BHXH tháng 7 thì bạn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản.
(lưu ý là thời gian truy đóng không tính để hưởng chế độ thai sản)
Nếu bạn tham gia BHXH tự nguyện thì bạn không được hưởng chế độ thai sản. Bạn xem lại mình có phải thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc hay không? Vì sao bạn làm việc cho đơn vị trên 03 tháng mà đơn vị không đóng BHXH cho bạn?
Theo qui định tại Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 của BHXH Việt Nam Ban hành quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc: Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người sử dụng lao động đóng BHXH, BHYT trên quỹ tiền lương, tiền công của những người lao động tham gia BHXH, BHYT; đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng người lao động theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.
Nếu bạn báo tăng trong đầu tháng 12/2010 thì làm thủ tục đăng ký từ tháng 12/2010 và truy đóng tháng 11/2010 vì HĐLĐ ký tháng 11/2010. Vì thời gian truy đóng BHXH sẽ không được hưởng chế độ thai sản nên thời gian để tính hưởng chế độ thai sản cho bạn được tính từ 12/2010 đến 4/2011, mới 5 tháng nên bạn không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Việc đơn vị bạn thông báo phải chờ việc sau khi bạn hết thời hạn sinh con có vi phạm luật không, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật BHXH.
Nếu bạn đã đóng BHXH từ tháng 01/2011 đến tháng 6/2011 thì bạn được hưởng chế độ thai sản. Đơn vị của bạn có trách nhiệm giải quyết và quyết toán với tổ chức BHXH.
(lưu ý là thời gian truy đóng không tính để hưởng chế độ thai sản)
Nếu bạn đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con thì bạn mới đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Giả sử bạn đủ điều kiện và mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc của bạn là 2,72.
Trường hợp của bạn sau khi sinh con, con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết, bạn được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con.
Cách tính như sau:
- Mức hưởng chế độ thai sản:
| 2,72 x 830.000 | x 100% x 90 ngày = | 7.814.769đ |
| 26 ngày |
- Trợ cấp một lần khi sinh con (02 tháng lương tối thiểu chung)
02th x 830.000đ = 1.660.000đ
Tổng cộng: 9.474.769đ
Theo bạn trình bày thì bạn đóng BHXH từ tháng 6/2011 đến tháng 10/2011 (vì ngày 02/11 bạn đã sinh con), chỉ mới 05 tháng nên bạn không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản vì theo qui định người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Giả sử bạn làm việc trong điều kiện bình thường, mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH của 6tháng liền kề trước khi nghỉ việc của bạn là 3.000.000đồng, trợ cấp thai sản của bạn được tính như sau:
+ Trợ cấp khi sinh con:
3.000.000đ x 04 th = 12.000.000đ
+ T/cấp 1 lần khi sinh con (02th lương tối thiểu chung):
02 x 830.000đ = 1.660.000đ
Tổng cộng : 13.660.000đ
Với thời gian tham gia BHXH đã nêu trong câu hỏi, bạn đóng BHXH từ tháng 8/2011 đến tháng 02/2012, dự định sinh vào tháng 3/2012.
- Bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản (đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con)
- Giả sử bạn làm việc trong điều kiện bình thường, mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH của 6tháng liền kề trước khi nghỉ việc của bạn là 1.550.000đồng, trợ cấp thai sản của bạn được tính như sau:
+ Trợ cấp khi sinh con:
1.550.000đ x 04 th = 6.200.000đ
+ T/cấp 1 lần khi sinh con (02th lương tối thiểu chung):
02 x 830.000đ = 1.660.000đ
Tổng cộng : 7.860.000đ
(lưu ý là thời gian truy thu không được tính hưởng chế độ thai sản).
Theo quy định tại Khoản a điểm 1 Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội: Người sử dụng lao động giữ lại 2% trong 3% của quỹ ốm đau, thai sản để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hằng qúi với tổ chức bảo hiểm xã hội..
Điều 117, Luật Bảo hiểm xã hội quy định: Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
Đối chiếu các qui định trên, Công ty bạn phải giải quyết số tiền thai sản cho bạn khi bạn nộp đầy đủ chứng từ cho đơn vị. Và do đơn vị bạn nợ tiền đóng BHXH nên cơ quan BHXH không thực hiện quyết toán trợ cấp thai sản cho đơn vị là đúng qui định.
Theo quy định tại điểm 2 văn bản số 1464/BHXH-BT ngày 23/5/2008 của BHXH Việt Nam hướng dẫn thu BHXH, trường hợp doanh nghiệp đang tham gia BHXH nhưng đóng BHXH không đúng thời gian quy định (như tình trạng nợ của đơn vị bạn) thì việc thanh toán các chế độ BHXH vẫn thực hiện khi đơn vị hoàn tất nợ.
(lưu ý là thời gian truy thu không được tính hưởng chế độ thai sản).
Bạn đóng BHXH bắt buộc từ 7/2011 đến tháng 5/2012, dự định sinh con vào tháng 6/2012, đã đóng BHXH từ đủ 6tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh nên bạn đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản.
Theo qui định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau: “Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi".
Bạn sẽ sinh con vào tháng 3/2012, đóng BHXH hết tháng 9/2011. Như vậy, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 3/2011 đến tháng 02/2012 (nếu bạn sinh con từ ngày 15/3/2012 thì tính từ 4/2011 đến 3/2012), và trong khoảng thời gian này bạn đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên nên được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Sau khi sinh con, bạn liên hệ với BHXH huyện nơi cư trú để được hướng dẫn thủ tục thanh toán.
Khi cơ quan BHXH quyết toán chế độ thai sản với đơn vị bạn đã tính tất cả các khoản trợ cấp thai sản của bạn rồi, bao gồm: Trợ cấp khi sinh con (4, 5, 6 tháng tuỳ điều kiện làm việc của bạn) và trợ cấp một lần khi sinh con là 02 tháng lương tối thiểu chung tại thời điểm bạn sinh con.
Đề nghị bạn làm việc lại với đơn vị về các khoản trợ cấp thai sản của bạn để được rõ.
Bạn đóng BHXH từ tháng 01/2010 đến tháng 9/2011, dự định sinh vào ngày 03/02/2012.
- Bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
- Giả sử mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH của 6tháng liền kề trước khi nghỉ việc của bạn là 930.000đồng, trợ cấp thai sản của bạn được tính như sau:
+ Trợ cấp khi sinh con: 930.000đ x 04 th = 3.720.000đ
+ Trợ cấp 1 lần khi sinh con (02th lương tối thiểu chung): 02 x 830.000 = 1.660.000đ
Tổng cộng : 5.380.000đ
- Thủ tục hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con gồm:
a. Sổ bảo hiểm xã hội của người mẹ;
b. Giấy chứng sinh (bản sao) hoặc Giấy khai sinh (bản sao) của con.;
c. Đơn của người lao động nữ sinh con hoặc đơn của người lao động nhận nuôi con nuôi (mẫu số 11B-HSB).
Hồ sơ bạn nộp tại BHXH huyện nơi có hộ khẩu thường trú.
Bạn đã nghỉ việc nên mọi thủ tục hưởng chế độ thai sản bạn phải tự đi làm, không liên quan đến đơn vị.
Điều 2 Luật BHXH qui định người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc;
Điều 18 Luật BHXH qui định người sử dụng lao động có trách nhiệm hằng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo qui định để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH;
Điều 111 Luật BHXH qui định: Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định.
Và theo qui định tại Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2008 của BHXH Việt Nam ban hành quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc: Trong thời gian phải truy đóng nếu người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và có khám chữa bệnh thì người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi hoàn chi phí cho người lao động.
Đối chiếu với các qui định trên, đơn vị của bà phải chịu trách nhiệm về việc đăng ký đóng nộp BHXH không kịp thời cho bà.
Thời gian truy đóng từ 4/2011 đến tháng 6/2011 không được tính để hưởng chế độ thai sản. Thời gian để tính hưởng thai sản của bà được tính từ tháng 7/2011 đến tháng 10/2011 mới có 04 tháng (Nếu bà sinh từ ngày 15 trở đi của tháng 11/2011 và có đóng BHXH tháng 11/2011 thì cũng chỉ được 5tháng) nên bà không đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản (phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi).
Theo qui định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau: “Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi".
Bạn dự định sinh con vào tháng 11/2011, đóng BHXH hết tháng 8/2011. Như vậy, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 11/2010 đến tháng 10/2011, và trong khoảng thời gian này bạn đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên nên được hưởng chế độ thai sản theo quy định (thời giantừ tháng 11/2010 -> 8/2011: 10th).
Theo Điều 30, Luật Bảo hiểm hiểm xã hội, qui định thời gian hưởng chế độ sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu như sau:
Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Như vậy, nhân viên của bà có thai đã được hơn 3 tháng, chế độ bảo hiểm xã hội mà nhân viên được hưởng sẽ là 40 ngày, tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Trường hợp bác sỹ không ghi tuổi thai thì chế độ bảo hiểm xã hội của lao động nữ theo Điều 30 như trên chỉ được thanh toán mức thấp nhất (10 ngày).
Theo Khoản 2 Điều 31 Luật BHXH: Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định Khoản 1 Điều 31 (4 tháng, 5 tháng hoặc 6 tháng); thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
Thời gian hưởng chế độ thai sản trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hàng tuần.
* Cách tính chế độ thai sản trong trường hợp trên như sau:
|
+ Mức hưởng sau khi sinh con chết | = | Mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề khi nghỉ sinh | x | 100% x | Số ngày nghỉ theo qui định trên |
| 26 ngày |
+ Trợ cấp 1 lần khi sinh con (2 tháng lương tối thiểu chung).
* Thủ tục hồ sơ đối với trường hợp sau khi sinh, con chết gồm:
- Sổ BHXH;
- Giấy báo tử (bản sao) hoặc giấy chứng tử (bản sao) của con. Đối với trường hợp con chết ngay sau khi sinh mà không được cấp các giấy tờ này thì thay bằng bệnh án (bản sao) hoặc giấy ra viện của người mẹ (bản chính hoặc bản sao).
Theo qui định tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau: “Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trướckhi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi".
Như vậy, người lao động trên sinh con tháng 4/2011, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2011(nếu sinh con từ ngày 15/4/2011 thì tính từ 5/2010->4/2011) và trong khoảng thời gian này người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên nên được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Theo qui định tại Khoản 3, Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội: “Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi.”
Và theo Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội: Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.
Như vậy, trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội (nếu đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên), thì cha nghỉ việc chăm sóc con được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của cha.
Thủ tục hồ sơ đối với trường hợp chỉ có người cha tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản,hồ sơ gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội của người cha;
- Giấy chứng sinh (bản sao) hoặc Giấy khai sinh (bản sao) của con;
- Giấy chứng tử của người mẹ (bản sao).
- Với nội dung bạn đã hỏi ở kỳ trước, sau khi nghỉ việc bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản (Đã đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con).
- Thủ tục hồ sơ giải quyết hưởng chế độ thai sản đối với người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con gồm:
a. Sổ bảo hiểm xã hội của người mẹ;
b. Giấy chứng sinh (bản sao) hoặc Giấy khai sinh (bản sao) của con.;
c. Đơn của người lao động nữ sinh con hoặc đơn của người lao động nhận nuôi con nuôi (mẫu số 11B-HSB).
Hồ sơ bạn nộp tại BHXH huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi .
Bạn sẽ được BHXH thanh toán cảc khoản trợ cấp sau:
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản là 04 tháng
(Mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc).
- Trợ cấp một lần khi sinh con: được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.
(Lao động nữ sinh con từ ngày 01/5/2011 thì lương tối thiểu chung được tính mức 830.000đ)
Giả sử mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc của bạn là 2,72.
Trợ cấp thai sản được tính như sau:
- 2,72 x 04tháng x 830.000đồng = 9.030.400đồng
- 02 tháng x 830.000đồng = 1.660.000đồng
Tổng cộng : 10.690.400đồng
Theo qui định tại Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động -TB&XH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc:
Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Đối chiếu với qui định trên, lao động nữ sinh con vào ngày 28/8/2011, nếu có đóng BHXH tháng 8/2011 thì được hưởng chế độ thai sản theo quy định (từ 3/2011->8/2011: 6th).
Bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.
Mời bạn tham khảo các câu hỏi tương tự chúng tôi đã trả lời trong mục hỏi đáp chế độ thai sản trên Website của BHXH tỉnh Quảng Ngãi: bhxhquangngai.gov.vn
Đang truy cập :
11
•Máy chủ tìm kiếm : 6
•Khách viếng thăm : 5
Hôm nay :
13585
Tháng hiện tại
: 508344
Tổng lượt truy cập : 6078746